Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2015

22 Quy Luật Bất Biến Trong Marketing Tác giả: Al Ries & Jack Trout

Tóm tắt 22 Quy Luật Bất Biến Trong Marketing Tác giả: Al Ries & Jack Trout. Một cuốn sách khá thú vị  mà bạn nên đọc. Dưới đây là tóm tắt 22 Quy Luật Bất Biến Trong Marketing




1. Quy Luật Tiên Phong: Trở thành người dẫn đầu sẽ hiệu quả hơn trở thành người giỏi hơn.

2. Quy Luật Chủng Loại: Nếu bạn không thể trở thành người tiên phong một chủng loại sản phẩm nào đó, hãy chọn một sản phẩm mới mà bạn có thể trở thành người tiên phong.

3. Quy Luật Ghi Nhớ: Được khách hàng nhớ đến đầu tiên sẽ hiệu quả hơn là xuất hiện đầu tiên trên thị trường. 

4. Quy Luật Nhận Thức: Marketing không phải cuộc chiến về sản phẩm mà là cuộc chiến về nhận thức.

5. Quy Luật Tập Trung: Vũ khí mạnh mẽ nhất trong marketing là gắn được một từ ngữ vào tâm trí khách hàng.

6. Quy Luật Độc Quyền: Hai công ty không thể có chung một ấn tượng trong tâm trí khách hàng tiềm năng.

7. Quy Luật Nấc Thang: Chiến lược bạn sử dụng tùy thuộc vào việc bạn đang ở nấc thang nào.

8. Quy Luật Song Đôi: Cuối cùng, mọi thị trường đều trở thành cuộc đua song mã.

9. Quy Luật Đối Nghịch: Nếu bạn muốn nhắm vào vị trí thứ hai, chiến lược của bạn sẽ phụ thuộc vào người tiên phong.

10. Quy Luật Phân Chia: Theo thời gian, một chủng loại sản phẩm sẽ phân chia và trở thành hai hoặc nhiều chủng loại.

11. Quy Luật Viễn Cảnh: Hiệu ứng marketing chỉ phát huy tác dụng trong một thời gian dài.

12. Quy Luật Mở Rộng: Việc mở rộng thêm nhãn hiệu thường là một áp lực không thể cưỡng lại được. 

13. Quy Luật Hy Sinh: Để có được thứ gì đó, bạn phải từ bỏ một thứ khác.

14. Quy Luật Đặc Tính: Bất cứ một đặc tính sản phẩm nào cũng có một đặc tính đối nghịch và hiệu quả đi kèm.

15. Quy Luật Thành Thật: Khi bạn thừa nhận một nhược điểm, khách hàng tiềm năng sẽ cho bạn một ưu điểm.

16. Quy Luật Đòn Then Chốt: Trong mỗi tình huống, chỉ cần một hành động duy nhất cũng sẽ mang lại nhiều kết quả đáng kể.

17. Quy Luật Không Thể Dự Đoán: Nếu không phải là người lập kế hoạch của đối thủ cạnh tranh, bạn không thể đoán trước được điều gì sẽ xảy ra trong tương lai.

18. Quy Luật Thành Công: Thành công thường dẫn đến kiêu ngạo, và kiêu ngạo sẽ dẫn đến thất bại.

19. Quy Luật Thất Bại: Thất bại là điều cần được dự báo và chấp nhận.

20. Quy Luật Cường Điệu: Tình hình thực tế thường trái ngược hoàn toàn với những gì giới truyền thông đưa tin.

21. Quy Luật Gia Tốc: Các chương trình thành công thường không được xây dựng dựa vào những mốt nhất thời, mà dựa vào khuynh hướng. 

22. Quy Luật Nguồn Lực: Một ý tưởng sẽ không thể trở thành hiện thực nếu không nhận được sự hỗ trợ đầy đủ về mặt tài chính



Nguồn: Sách: 22 Quy Luật Bất Biến Trong Marketing Tác giả: Al Ries & Jack Trout

Đi du lịch Hàn Quốc chưa bao giờ giá lại rẻ như vậy. Đặt tour hôm nay, tháng 7 khởi hành Ѯ

Yếu tố trọng yếu thành công của Facebook

Mạng xã hội đang ngày càng trở nên phổ biến trong đời sống của chúng ta, làm thay đổi cách liên lạc của cả thế giới và giúp con người kết nối với nhau dễ dàng hơn. Đây cũng là một môi trường kinh doanh trực tuyến “màu mỡ” bởi thông qua Internet, các doanh nghiệp có thể tiếp cận với nhiều đối tượng khách hàng một cách nhanh chóng và thuận tiện.



Facebook hiện là trang mạng xã hội lớn nhất thế giới, và thậm chí còn được ví như “chất gây nghiện” đối với nhiều người khi mà mỗi giây có tới gần 800 triệu người đăng nhập tài khoản để kiểm tra “notification” và xem “news feed.”

Bởi vậy, không có gì ngạc nhiên khi biết rằng trong rất nhiều yếu tố dẫn tới thành công nhanh chóng của Facebook, có sự đóng góp không nhỏ của hoạt động quảng cáo trực tuyến.

Bước tiến “thần tốc”

Facebook bắt đầu bước chân vào lĩnh vực quảng cáo trực tuyến vào tháng 10/2007, khi chính thức ký hợp đồng quảng cáo với Microsoft và đưa ứng dụng Facebook Ads vào hoạt động.

Vào thời điểm đó, Google vẫn là “ông vua không ngai” của thị trường này, xếp trên hai doanh nghiệp danh tiếng là Microsoft và Yahoo.

Tuy nhiên, tới năm 2012, nhờ hưởng lợi lớn từ mảng quảng cáo trên các thiết bị di động như điện thoại thông minh (smartphone) và máy tính bảng (tablet), “ông trùm” mạng xã hội này đã vượt Yahoo để trở thành nhà cung cấp dịch vụ quảng cáo trực tuyến lớn thứ hai thế giới.

Tính riêng tại thị trường Mỹ, Facebook, Twitter và Linkedn là ba mạng xã hội có doanh thu từ quảng cáo trực tuyến “khủng” nhất năm 2014. Trong đó, Facebook dẫn đầu với doanh thu từ hoạt động quảng cáo số trung bình đạt 8,67 USD/người dùng/tháng.

Mặc dù khoảng cách về thị phần quảng cáo trực tuyến trên thế giới giữa Facebook và “gã khổng lồ tìm kiếm” Google vẫn còn khá lớn, song với đà phát triển nhanh như hiện nay của Facbook trên mảng quảng cáo di động, khoảng cách đó đang dần được thu hẹp.

Khả năng này càng có cơ sở hơn khi mà tại hội nghị dành cho lập trình viên F8 diễn ra hồi tháng 5/2014, Facebook đã giới thiệu một mạng lưới quảng cáo mới mang tên Audience Network.

Hoạt động trên nhiều thiết bị di động, phân phối đa dạng các loại hình quảng cáo đến người dùng trong và ngoài mạng xã hội, đây được coi là “quân bài” chiến lược giúp Facebook tăng doanh thu quảng cáo bởi nó tạo ra một không gian kinh doanh mới cho hơn một triệu nhà quảng cáo trên Facebook thông qua việc hiển thị quảng cáo nhắm đến từng loại ứng dụng và phân khúc người dùng cụ thể.

Những con số ấn tượng

Tính tới cuối tháng 1/2015, Facebook có 1,39 tỷ người sử dụng thường xuyên trên toàn cầu, với mức tăng trung bình 13%/năm, duy trì vị thế là mạng xã hội đông thành viên nhất thế giới. Như vậy, với tổng số dân trên toàn cầu hiện trên 7 tỷ người, khoảng 20% dân số thế giới đang tham gia vào mạng xã hội Facebook.

Báo cáo tài chính năm 2014 của Facebook cho thấy phần lớn doanh thu của công ty này đến từ mảng quảng cáo điện tử, nhất là quảng cáo di động.

Cụ thể, tổng doanh thu của Facebook trong năm ngoái đạt 12,466 tỷ USD, tăng 58,4% so với cùng kỳ năm 2013, giúp đưa lợi nhuận của Facebook tăng tương ứng 96% và đạt 2,940 tỷ USD. Đây cũng là năm đầu tiên doanh thu hàng năm của Facebook vượt mốc 10 tỷ USD. Trong đó, doanh thu từ quảng cáo tăng 64,5%, đạt 11,492 tỷ USD, với 69% là từ quảng cáo di động, trong bối cảnh số người truy cập Facebook qua laptop và máy tính để bàn ngày càng có xu hướng giảm.

Trên thực tế, có tới 38% số người sử dụng facebook, tương đương khoảng 526 triệu người, truy cập mạng xã hội này thông qua các thiết bị di động. Do vậy, trong quý IV/2014, các nhà quảng cáo đã chi 2,48 tỷ USD cho dịch vụ quảng cáo di động của Facebook, chiếm 69% tổng doanh thu từ mảng quảng cáo trực tuyến của công ty này.

Giới phân tích dự báo rằng chi tiêu cho hoạt động quảng cáo trực tuyến trên toàn cầu sẽ đạt khoảng 52,8 tỷ USD năm 2015, chiếm 28-30% tổng mức chi tiêu cho các dịch vụ quảng cáo nói chung. Kết quả này có thể giúp doanh thu từ quảng cáo trực tuyến của Facebook trong năm 2015 leo lên mức 14,27 tỷ USD. Theo eMaketer và Nhật báo Wall Street, trong khi các loại hình quảng cáo truyền thống chững lại thì doanh thu từ quảng cáo điện tử trên toàn cầu sẽ tăng gấp đôi tới năm 2018, đồng thời chi tiêu cho loại hình quảng cáo này sẽ vượt mức chi tiêu cho quảng cáo truyền hình.

Mới đây, người sáng lập, kiêm Giám đốc điều hành của Facebook, Mark Zuckerberg, đã bóng gió nói về việc mạng xã hội này sẽ tập trung vào sản xuất hình ảnh và video trong những năm tới để tạo ra những "khoảnh khắc chất lượng cao hơn".

Việc Facebook tập trung vào phát triển video tất nhiên sẽ là một cơ hội tuyệt vời cho quảng cáo qua video của các doanh nghiệp. Thêm vào đó, việc Facebook vừa công bố chức năng gửi tiền trực tiếp và thanh toán nợ qua ứng dụng Messenger cũng giúp mạng xã hội này giành thêm lợi thế so với các tên tuổi lớn khác trong lĩnh vực thanh toán điện tử.

Đáp lại, Google cũng vừa phát hành công cụ hỗ trợ quảng cáo trên YouTube mang tên Google Preferred, giúp các nhà quảng cáo đưa chương trình khuyến mãi của mình đến đúng dối tượng khách hàng trên YouTube.

Các nhà quan sát thị trường nhận định rằng những dịch vụ mới của cả Facebook và Google càng khiến cho “cuộc chiến” giành thị phần quảng cáo số trở nên gay gắt hơn.

Nguyên lý Viral Marketing: Contagious

Trong 10 năm gần đây có rất nhiều sách viết về tiếp thị truyền miệng, tiếp thị tạo buzz, thế nhưng rất ít có cuốn sách nào đi giải thích được cơ chế phát tán cũng như những nguyên lý nào giúp cho nó phát tán. Cuốn sách Contagious Why Things Catch On, New York Bestseller có thể nói là cuốn sách duy nhất hiện nay – đã tìm cách trả lời cho những câu hỏi này.



Mỗi ngày có bao nhiêu là câu chuyện được phát tán như virus.

  • Clip Susan Boyle trong Britain’s Got Talent chỉ một đêm thôi mà cả thế giới biết.
  • Gangnam Style đã tạo một cơn sốt 1 tỉ hit youtube trong một thời gian ngắn.
  • Messi Việt Nam Công Phượng 19 hay 21 tuổi?
  • Người Việt mua thị trấn Mỹ rồi đổi tên thành thị trấn cà phê Việt.


Jonah Berger, trợ lý giáo sư của Trường kinh doanh Wharton, Đại học Pennsylvania đã bỏ ra hơn 10 năm nghiên cứu. Và ông đã bắt đầu dạy môn Contagious ở trường từ vài năm nay.

Có 6 nguyên lý căn bản giúp phát tán, bao gồm:

  • Social currency (Có chuyện để tám)
  • Trigger (Liên tưởng)
  • Emotion (Cảm xúc)
  • Public (Công chúng)
  • Practical Values (Giá trị thực tế)
  • Story (câu chuyện)


Nguyên lý Social Currency, thông tin để tám

Ai trong chúng ta cũng đều muốn được nhìn nhận là hiểu biết, thông minh, thành công… Đó là nhu cầu có thật trong mỗi chúng ta. Có nhiều cách để phô diễn điều này. Một trong những cách đó là chúng ta chia sẻ những thông tin mà đâu đó giúp chúng ta đạt được điều này.

Những thông tin đó, có thể là món bò beefsteak trét bơ của một nhà hàng Philadelphia giá 100 đô Obama, trong khi những nơi khác chỉ có 20 đô là cùng. Chia sẻ những thông tin này giúp chúng ta cảm thấy: tôi cũng có tiền và cũng biết thưởng thức chứ bộ. Vấn đề là làm sao để cho người khác tám?

Một quán hot dog có tên Crif Dogs ở New York rất là nổi tiếng. Sau đó họ muốn mở thêm một quán bar vì nhà hàng có giấy phép bán rượu. Cạnh bên nhà hàng là một quán giải khát ế ẩm. Và họ muốn sang lại để mở quán bar. Và họ đã có một ý tưởng tuyệt vời. Trong góc của quán hot dog, họ để một booth điện thoại cổ cũng là cửa thông qua cái bar rượu. Chỉ khách biết thì họ mới đến booth, nhấc điện thoại lên; đầu giây bên kia sẽ hỏi: Ông/bà có đặt trước chưa? Tất nhiên là chưa nhưng thôi, hôm nay họ cho bạn một đặc ân. Đây là quán bar mang tên “Please don’t tell”.

Một điều chắc chắn rằng, khi bạn biết được cái quán bar này bạn sẽ thông báo cho những người khác. Và người khác lại thông báo cho người khác. Cứ thế quán bar này hoàn toàn không mất tiền quảng cáo mà lúc nào cũng khách đông nườm nượp.

Là một doanh nghiệp, thương hiệu; bạn cần phải tạo ra chuyện để cho khách hàng tám. Hay nói cách khác, bạn phải cung cấp “currency” để họ trao đổi. Bạn có thể làm cho khách hàng cảm thấy họ có đặc quyền, ít nhất là về thông tin. Như trường hợp quán bar Please Don’t Tell. Hoặc bạn có thể tạo ra những điều đặc biệt, tạo chú ý, quan tâm. Lúc đó, khách hàng sẽ dùng câu chuyện, thông tin đó để trao đổi.

Snapple là một loại nước trái cây đã tận dụng phần dưới nắp chai (Under The Cap) để cung cấp một số thông tin vui. Thí dụ như trung bình mỗi người mất 2 tuần trong đời người dừng trước đèn giao thông! Mỗi cái nắp là một thông tin. Khi mở nắp uống, khách hàng sẽ háo hức xem có những thông tin nào thú vị hay không, rồi cùng bàn luận.

Nguyên lý Trigger, liên tưởng.

Nhiều chuyên gia về tiếp thị tạo buzz khẳng định, khách hàng sẽ thích nói về những công ty/sản phẩm lý thú hơn là công ty/sản phẩm nhàm chán. Thật ra không hẳn như vậy. Liên tưởng sẽ giúp cho việc phát tán nhanh hay chậm.

Một sản phẩm mà dùng hàng ngày như Vinamilk sẽ dễ được liên tưởng hơn là Vinpearl vốn chỉ dễ liên tưởng vào những kỳ nghỉ lễ.

Mars là thương hiệu socola ở Mỹ đã gặp may khi năm 1997 doanh số tăng một cách bất ngờ. Số là năm ấy NASA thám hiểm thành công trên sao hỏa, được báo chí đưa tin rầm rộ nên được nhiều người bàn tán và thế là Mars được hưởng sái.

Vì vậy, bạn cần phải chú ý đến bối cảnh mà thông điệp/ý tưởng nó liên quan. Các chương trình quảng cáo nếu khai thác được những điểm này, cũng là cơ hội cho khách hàng bàn tán.

Budweiser tung ra chiến dịch Wassup? một dạng tiếng lóng chào hỏi của thanh niên (tạm dịch là ê, gì mới không?). Trong một TVC, các nhân vật gặp nhau chào hỏi tại một quán bar đang chiếu trực tiếp trận bóng rổ. Wassup? sau này đã trở thành một hiện tượng của thanh niên. Cứ gặp nhau, chào hỏi là wassup, rồi kêu một chai Budweiser!

Tương tự, Kit Kat cũng đã tạo ra thành công khi liên tưởng đến lúc giải lao. Take a break, take a Kit Kat là slogan của thương hiệu này. Việc liên tưởng nhiều như vậy tạo cơ hội cho việc bàn luận, phát tán thông tin liên quan đến Kit Kat.

Ở Việt Nam, có thể nói Kinh Đô được liên tưởng nhiều nhất đến tết, mặc dù rất nhiều thương hiệu đã muốn dây máu ăn phần. Heineken sở hữu được trigger Giáng sinh, năm mới. Heineken cũng dễ liên tưởng đến màu xanh lá cây. Close-up ít nhiều cũng được liên tưởng đến Valentine.

Nguyên lý Emotion, cảm xúc

Khi bạn chia sẻ một nội dung ít nhiều bạn cũng chia sẻ chính cảm xúc của mình. Cảm xúc về một giấc mơ làm ca sĩ chuyên nghiệp của một người phụ nữ 47 tuổi Susan Boyle trong Britain’s Got Talent đã tạo ra cao trào. Rằng đừng có Coi mặt mà bắt hình dong. Đừng thấy một người phụ nữ quê mùa như vậy mà nghĩ rằng cô ta không thể có một giọng hát hay hoặc không thể mơ làm ca sĩ chuyên nghiệp. Khi bạn chia sẻ clip Susan Boyle thì chính bạn cũng chia sẻ/đồng cảm với cảm hứng mà người phụ nữ này đem lại. Rằng chính bạn cũng có một giấc mơ như vậy.

Cảm xúc có thể được phân làm 2 loại: tích cực (vui, phấn chấn) và tiêu cực (buồn, chán). Những cảm xúc thuộc loại thái cực của 2 loại này thì sẽ dễ thúc đẩy chia sẻ, bàn tán. Cũng là tích cực, nhưng cảm xúc phải là wow như Clip Susan Boyle. Cũng là tiêu cực nhưng phải là giận dữ, lo lắng thì cơ hội chia sẻ nhiều hơn những cảm xúc đơn giản chỉ là buồn.

Clip về một du khách Việt ở Singapore chỉ kiếm 3 triệu đồng/tháng, cố dành tiền mua iPhone 6 để tặng bạn gái, cuối cùng bị bắt chẹt – chắc chắn cho bạn một cảm xúc tức giận. Và bạn có thể trút nổi tức giận này bằng cách chia sẻ cho người khác biết. Hãng hàng không United Airlines đã học một bài học cay đắng liên quan đến một hành khách bất bình vì hành lý bị thiệt hại.

Dave Carroll là một nhạc sĩ có tiếng vác theo mấy cây guitar lên máy bay khi đi lưu diễn. Nhạc cụ của anh được yêu cầu phải check in vào khoang hành lý. Khi đến nơi, thì hỡi ôi! Cây đàn của anh bị tơi tả. Khiếu nại chỗ này thì chỉ qua chỗ kia, không ai giải quyết. Yêu cầu đền 3,500 đô bị từ chối. Bực tức quá, anh sáng tác một bài nhạc với tiêu đề United Breaks Guitars. Hãng hàng không United làm gãy cây đàn! Chỉ trong 4 ngày, clip bài hát này đã lên đến 1,3 triệu cùng với 14.000 bình luận, trở thành top 10 viral video trong năm 2009. United đã bị thiệt hại hơn 180 triệu đô giá trị cổ phiếu trong năm đó.

Nhiều giám đốc tiếp thị thường tập trung vào thông tin của nội dung, thường bỏ qua cảm xúc của thông tin đem lại mà họ quên rằng, chính cảm xúc mới dẫn dắt người ta hành động, cụ thể là chia sẻ.

BMW đã tạo ra cảm xúc nhiều cung bậc cho series phim ngắn chiếu trên internet “The Hire” vào năm 2001. Loạt phim tô đậm hình ảnh Người lái xe và chiếc BMW luôn thực hiện những sứ mệnh quan trọng. Loạt phim đã mở đầu cho các hoạt động tạo branded content (nội dung số), giúp BMW tăng được 12% doanh số.

Nguyên lý Public, Công chúng

Con người nói chung có khuynh hướng bắt chước. “Khỉ thấy, khỉ bắt chước” là thành ngữ chỉ khuynh hướng này. Tất cả các máy laptop Apple khi đang làm việc thì logo sẽ được quay vào hướng thuận cho người đối diện. Nghĩa là, Steve Jobs muốn người khác nhìn thấy logo Apple thuận chiều hơn là người sử dụng nhìn. Và như thế họ sẽ bắt chước mua.

Các ý tưởng muốn được lan truyền nhiều cần phải làm sao cho nó dễ thấy khi đó họ sẽ dễ bị thuyết phục. Khi bạn chưa có thông tin nào về quán ăn mà sắp vào thì dấu hiệu đơn giản nhất mà bạn cần là xem quán có khách hay không. Nếu ít khách, bạn sẽ giả định là chắc thức ăn ở đó không ngon.

Vòng đeo tay Livestrong là một thí dụ. Khi bạn đeo vòng này bạn là bạn muốn cho người khác biết là bạn có đóng góp, mặc dù chỉ có 1 đô la cho tổ chức Livestrong để giúp cho bệnh nhân ung thư. Ý tưởng này đã trở thành một hiện tượng trong năm 2003. Tương tự ý tưởng Ice Bucket Challenge Thử thách xô nước đá. Người chơi chấp nhận bị dội nước xô nước đá và chỉ phải quyên góp số tiền 10 USD, nếu không sẽ phải bỏ ra số tiền là 100 USD cho quỹ phòng chống xơ cứng teo cơ. Sau khi hoàn thành thử thách, người chơi có quyền thách thức những người tiếp theo. Ai tham gia, chắc chắn cũng sẽ có tấm hình tự sướng để post lên facbook cho người khác biết. Rồi thách thức người kế tiếp.

Thách thức cho bạn là làm sao biến những tham gia của từng người riêng lẻ vào một hoạt động nào đó để cho nhiều người biết. Và khi đó, họ sẽ bắt chước bằng cách tham gia, hay chia sẻ cho người khác biết. Hoặc bạn phải làm sao cho thương hiệu tự quảng cáo. Nghĩa là khách hàng sẵn lòng khoe với người khác là tôi là khách hàng của sản phẩm, thương hiệu này. Các công ty thời trang luôn có những chiếc áo mang logo hoặc biến tấu như Nike, Abercrombie & Fitch, Ralph Laurent…

Nguyên lý Practical value, giá trị thực tế

Khi tám, chia sẻ thông tin với người khác là cách bạn tự khẳng định mình về trình độ, đẳng cấp xã hội, mối quan tâm. Khi đó sẽ làm cho bạn cảm thấy vui vẻ (vì tôi biết chuyện này), tạo cảm hứng cho người khác (vì chính tôi cũng đồng cảm…). Bạn cũng chia sẻ thông tin vì chính giá trị, cũng như lợi ích của thông tin đó đem lại.

Có 2 loại thông tin mà người ta chia sẻ: một là mang tính giải trí và hai là hữu ích. Giải trí có thể clip hài hước của nước khoáng Evian với hơn 78 triệu views hay clip học thiếu lâm tự của Pepsi với gần 50 triệu views.

Người chia sẻ những nội dung vì thông tin hữu ích, cần thiết cho người nhận. Có thể là cách dạy làm tóc, phối quần áo, trang điểm… Cô gái Mỹ gốc Việt Michelle Phan có lượng xem clip dạy trang điểm nhiều nhất.

Bạn có thể lồng ghép thương hiệu vào nội dung thông tin hữu ích. Chỉ có thế người xem mới tìm đến và chia sẻ. Tương tự bạn cũng có thể lồng ghép vào phim mang tính giải trí. Mùa oải hương năm ấy là một thí dụ trong đó có PhinDeli và Purité By Prôvence. Đặc biệt là sự có mặt của Người Việt mua thị trấn Mỹ thị trưởng Phạm Đình Nguyên. Đây là cách đầu tư vào nội dung thương hiệu rất hiệu quả.

Nguyên lý Story, câu chuyện

Nói gì thì nói, cuối cùng bạn cần phải có một câu chuyện đơn giản, bất ngờ, thuyết phục, tạo cảm xúc… Câu chuyện đó có thể là con ngựa thành Trojan. Hay David chống lại Goliad. Đây là những câu chuyện qua hàng ngàn năm kể lại vẫn thấy hay và hấp dẫn. Hoặc câu chuyện của ông Đại tá Harland Sanders của KFC với bí quyết món gà rán 11 thứ gia vị. Ông gõ cửa từng cửa hàng, trổ tài chế biến món gà lừng danh của mình và dù 1.009 lần bị từ chối nhưng ông không bao giờ bỏ cuộc.

Hoặc câu chuyện người Việt mua thị trấn Buford Mỹ Phạm Đình Nguyên làm nước Mỹ phải tỉnh giấc. Sau đó, ông thị trưởng này còn đổi tên thành thị trấn cà phê Việt, chính thức giới thiệu thương hiệu cà phê PhinDeli.

Một lưu ý. Ý tưởng hay câu chuyện tạo ra cần phải gắn kết với sản phẩm, hoặc thương hiệu hơn là chỉ để nhiều người bàn tán, chia sẻ nhưng không đạt mục tiêu tiếp thị. Clip em bé trượt pate với ngân sách 6 số Evian đạt hơn 78 triệu views nhưng kết quả trong năm đó lại thảm hại. Thị phần toàn cầu của Evian trong năm đó giảm 25%. Đơn giản vì clip đó thì thuần túy là vui, ngộ nghĩnh chẳng đem lợi gì đến sản phẩm hay thương hiệu. Will it blend? là clip của hãng Blendtec không mấy tiếng tăm chỉ tốn có vài trăm đô nhưng đã tạo ra kết quả không ngờ vì nó tô đậm đến tính năng khỏe, bền của chiếc máy xay sinh tố. Nó nghiền chiếc iPad thành tro bụi! Sau đó nó tiếp tục nghiền đến iPhone…

Giờ thì bạn có thể giải thích được phần nào lý do tại sao có những ý tưởng lại lan truyền. Quan trọng hơn là bạn có thể ứng dụng 6 nguyên lý này vào những ý tưởng viral cho thương hiệu. Đừng bỏ tiền vào TVC, rồi phát sóng. Đó là cuộc chơi của những thương hiệu lớn. Nếu bạn muốn đánh bại họ, hãy suy nghĩ khác! Tạo ra một câu chuyện hay, một ý tưởng độc đáo; rồi giúp cho nó phát tán.

Chúc bạn thành công!

4 yếu tố thể hiện hình ảnh tích cực của doanh nghiệp

Đối với các doanh nghiệp, hình ảnh nhiều khi được đánh giá thông qua những chi tiết rất nhỏ từ hình ảnh người đại diện hoặc các kênh quảng bá. Tiếc rằng, nhiều doanh nghiệp không nhận biết được tầm quan trọng của các yếu tố này.



Carmine Gallo - một chuyên gia đào tạo diễn thuyết kinh doanh, phóng viên truyền hình từng đạt giải Emmy, đồng thời là tác giả cuốn sách best-seller “10 Simple Secrets of the World's Greatest Business Communicators (Tạm dịch: 10 bí mật đơn giản về những nhà diễn thuyết kinh doanh giỏi nhất thế giới), đã đề cập về vấn đề này thông qua một câu chuyện thú vị.

Vào một ngày, khi Gallo đang đổ xăng tại một trạm xăng thì một chiếc xe tải chạy đến gần xe ông và cũng dừng lại đổ xăng. Chiếc xe trông thật cũ kỹ và dơ dáy, không có nắp đậy trục bánh xe, một vết nứt lớn trên kính xe và bộ đỡ phía trước xe thảm hại như thể nó vừa trải qua một vụ va chạm khủng khiếp khiễn động cơ xe lộ hẳn ra ngoài.

Bây giờ, bạn hãy hình dung điều này. Những dòng chữ trên chiếc xe tải có nội dung: “Dịch vụ dọn dẹp – Trung thực, Đáng tin cậy và Linh hoạt ”. Như tất cả chúng ta đều biết, nội dung này thể hiện một dịch vụ dọn dẹp 5 sao. Song hình ảnh của nó lại thể hiện điều hoàn toàn ngược lại. Vậy, bạn có thể tin tưởng vào một dịch vụ dọn dẹp với chiếc xe tải như vậy không?

Ví dụ này chỉ ra rằng, hình ảnh của bạn thể hiện rất nhiều điều trước khi bạn mở lời. Tuy nhiên, liệu nó có biểu lộ đúng những gì bạn mong muốn? Đó mới là vấn đề quan trọng.

Hình thức bên ngoài

Gallo luôn rất ấn tượng với những nhà lãnh đạo kinh doanh có phong cách ăn mặc hoàn hảo – cả nam và nữ doanh nhân, những người luôn giữ hình ảnh bản thân ở mức chuẩn mực, chẳng hạn như CEO Jeff Immelt của General Electric, Larry Ellison của Oracle và Andrea Young của Avon. Hình thức bên ngoài của họ biểu hiện đúng hình ảnh một nhà lãnh đạo thực thụ. Bạn nên học tập điều này.

Gallo đã từng hỏi các nhà tuyển dụng hàng đầu về yếu tố đầu tiên họ mà họ chú ý khi gặp gỡ một ứng viên. Câu trả lời là phong cách ăn mặc. Liệu các ứng viên có ăn mặc thích hợp với văn hóa công ty hay không? Nếu một ai đó bước vào phòng với vẻ ngoài chỉn chu, người phỏng vấn sẽ cảm thấy rất thoải mái và có cảm tình hơn. Vì vậy, hãy chú ý đến hình thức bên ngoài, đây là yêu tố quan trọng để chiếm được cảm tình của người đối diện.

Tư thế, dáng điệu

Chuyên gia tư vấn bồi thẩm đoàn Jo Ellen Dimitrius nhận được hàng triệu USD mỗi năm để lựa chọn các hội thẩm viên - những người có thể hành động và suy nghĩ có lợi cho khách hàng của bà. Bà dành rất nhiều thời gian để nghiên cứu về ngôn ngữ cơ thể. Theo Dimitrius , chính những tư thế, cử chỉ yếu đuối và thiếu sinh khí sẽ thể hiện sự thiếu tự tin cùng khả năng lãnh đạo yếu kém, trong khi những cử chỉ tích cực thường bộc lộ hình ảnh nhà lãnh đạo tự tin, có năng lực và luôn làm chủ mọi tình huống.

Điều này khiến Gallo nhớ tới một khách hàng của ông, người thường phải chuẩn bị các bài diễn thuyết quan trọng trước các nhà đầu tư chủ chốt đều là những CEO nổi tiếng và giàu có.

Trước khi đến gặp Gallo, ngôn ngữ và tư thế dáng điệu của vị khách hàng này thể hiện trong buổi thuyết trình thường thể hiện những thông điệp không mấy tích cực, đặc biệt khi ông phải nhắc tới nhữnng khó khăn nhất định mà doanh nghiệp đang gặp phải. Điều này khiến người nghe cho rằng công ty của vị khách hàng này đang gặp rắc rối lớn, và chính công ty này đang lạc hướng, không biết phải làm gì và nguồn ngân sách cũng không còn dồi dào.

Sau khi được Gallo tư vấn, vị khách hàng đã từ bỏ được một vài thói quen không mấy thích hợp. Ông giao tiếp bằng ánh mắt đầy khát khao và có chủ đích, bỏ tay ra khỏi túi và sử dụng nó để minh hoạ và thể hiện thái độ tự tin. Đây chính là chìa khoá đem lại thành công.

Môi trường làm việc

Bạn đã bao nhiêu lần ghé thăm văn phòng làm việc của một công ty và cảm thấy khó chịu với những căn phòng thiếu sạch sẽ, đồ dùng để bừa bộn? Trên cương vị một chủ doanh nghiệp nhỏ, bạn đã thực sự quan tâm đến môi trường làm việc của mình?

Gallo đã từng có cơ hội phỏng vấn nhà sáng lập của một công ty giải trí du lịch lớn ở Carmel, California. Trong khi nói chuyện, người này vẫn tẩn mẩn nhặt những mẩu rác nhỏ nhất, khó để ý nhất ở xung quanh phòng và cho vào thùng rác – hành động này Gallo thậm chí mãi mới nhận ra . Ông ta còn để ý đến việc tấm khăn trải bàn đã phẳng chưa, chiếc đèn được để đúng chỗ không?...

Sự cẩn thận này là một yếu tố đưa khách sạn của ông luôn đạt danh hiệu 5 sao trong 20 năm liền. Nhà sáng lập đó nói với Gallo rằng, chính môi trường sạch sẽ khiến các khách hàng cảm thấy mình được tôn trọng, và bạn cũng nhận lại được sự tôn trọng đó từ khách hàng.

Dữ liệu tiếp thị

Các dữ liệu tiếp thị thường có tác động lớn đến những trải nghiệm đầu tiên của khách hàng với nhãn hiệu của bạn. Chúng nói những gì về bạn? Chúng truyền tải thông điệp rằng công ty bạn luộm thuộm, thiếu nhất quán, hay chúng nói lên những thành công, sự chuyên nghiệp của bạn?

Một nhà tư vấn kinh doanh từng đưa cho Gallo một tấm danh thiếp kinh doanh được in trên một loại giấy rẻ tiền với chú ý nhỏ ở góc dưới – “để có được tấm danh thiếp miễn phí, hãy liên hệ XYZ””. Miễn phí! Rất có thể nhà tư vấn kinh doanh này đã đạt được nhiều thành công trong sự nghiệp, nhưng nếu ông ta không thể bỏ ra một vài USD để có những tấm danh thiếp kinh doanh được thiết kế chuyên nghiệp, chắc chắn đối tác sẽ có nhiều hoài nghi.

Thế còn về trang web của bạn? Trang web nói gì về bạn? Gallo biết rõ bạn có thể nghĩ rằng việc sử dụng những mẫu website sẵn có sẽ thích hợp và tiết kiệm hơn, đặc biệt với các công ty nhỏ. Hãy nghĩ lại, việc này chưa chắc đã đúng. Bạn sẽ trở nên nổi bật và chuyên nghiệp hơn nếu chịu bỏ ra chút tiền mặt để thuê một chuyên gia giúp bạn việc này. Điều này thực sự có thể tạo nên sự khác biệt rõ rệt.

Uber và tham vọng đằng sau chính sách giá rẻ

Uber đã làm gì khiến các công ty vận chuyển lên tiếng phản đối, thậm chí nhận phải hành động tẩy chay của đông đảo các hãng taxi trên thế giới? Vì đụng tới "nồi cơm" của các công ty vận chuyển nên Uber vấp phải sự phản đối, thậm chí tẩy chay của đông đảo các hãng taxi trên thế giới. Hàng nghìn tài xế trên thế giới đã xuống đường biểu tình để phản đối.



New York là nơi Uber tạo ra doanh thu lớn nhất, là thị trường đầu tiên nơi Uber tuân thủ luật lệ, thuê các tài xế có bằng lái thương mại cho dịch vụ UberX, các tài xế này chủ yếu là những người dùng vé tháng. Theo Corey Owens, giám đốc chính sách cộng đồng toàn cầu của Uber, New York có các qui tắc hiện đại nhất cho phép các công ty thu phí thấp hơn limousine, miễn là bạn có bằng lái thương mại. Las Vegas và Kansas, Mo., nơi Transdev đang làm vương làm tướng, là nơi khó xâm nhập nhất với cách bảo vệ kinh doanh dùng luật pháp để xua đuổi đối thủ cạnh tranh hơn là cải thiện phương tiện cũng như trình độ tài xế, Owens nói.

Tại những nơi khác ở Mỹ và nước ngoài, nơi mà hầu hết các qui định vận tải hạn chế Uber bằng cách tối thiểu hóa giá và gia tăng thời hạn đặt chỗ, chiến lược của Uber là thực hiện dịch vụ không màng tới qui luật rồi tận dụng sự phổ biến của mình buộc qui luật phải thích nghi lại. Gần đây, chiến lược này thành công ở gần 30 thị trường ở Bắc Mỹ, bao gồm Colorado, Illinois, và California.

Thế nhưng, giá Uber có thực sự rẻ như mọi người vẫn nghĩ? Mới đây, trang Business Insider đã có một cuộc so sánh giá taxi và Uber tại thị trường Mỹ để chi ra những điểm khác biệt trong cách làm chiến lược giá.

Có thể thấy rằng, trong khi ở Việt Nam mọi người mới chỉ quan tâm đến chuyện, liệu Uber là công ty cung cấp dịch vụ vận tải hay là công ty cung cấp nền tảng công nghệ, thì ở các nước vấn đề nóng nhất liên quan đến Uber là surge pricing (định giá nhảy cóc).

"Surge pricing" có thể hiểu là hành động tăng giá khi thiếu xe. Cụ thể, vào những giờ cao điểm thiếu xe, việc tăng giá gấp đôi là bình thường, đơn cử như gần đây sau lễ hội Halloween giá Uber bên Mỹ đã tăng gấp 7-8 lần so với bình thường. Lúc này người dùng không còn lựa chọn nào khác (sau khi taxi đã chết sạch).



Sau lễ hội Halloween giá Uber ở Mỹ đã tăng gấp 7-8 lần so với bình thường

Thực tế đã cho thấy mức giá mà Uber quảng cáo trên website thực ra là giá tối thiểu, cho nên để so sánh chính xác phải tính giá trung bình (giá tối thiểu cộng với giá khi có surge pricing). Mức giá trung bình này (nếu tính được) chắc chắn cao hơn giá mà Uber quảng cáo, chưa chắc đã rẻ hơn giá của các hãng taxi khác. Và sau khi hoạt động một thời gian dài với giá rẻ, người tiêu dùng đã "nghiện" và các hãng taxi đã giãy chết, đây chính là lúc Uber độc quyền hoàn toàn về giá.

X-Men - định vị thương hiệu khôn ngoan

Sau hơn 10 năm, X-Men vẫn dẫn đầu thị phần dầu gội nam, trong khi Clear dẫn đầu thị phần dầu gội nói chung. Yếu tố nào đã giúp X-Men đứng vững và cạnh tranh hiệu quả với các "đại gia" như Unilever và P&G với nguồn lực khủng về truyền thông và chiêu thị?



Đã 4 năm trôi qua kể từ khi ICP (công ty chủ quản của thương hiệu X-Men) bán 85% cổ phần cho Marico, một tập đoàn hoá mỹ phẩm của Ấn Độ. Không có sự vung tiền ồ ạt nào khi X-Men dưới sự quản lý của Marico vẫn tiếp tục những bước đi lặng lẽ nhưng hiệu quả: Theo số liệu quý I/2015 từ Nielsen thì X-Men vẫn dẫn đầu thị phần dầu gội nam, trong khi Clear dẫn đầu thị phần dầu gội nói chung.

Để đứng vững và cạnh tranh hiệu quả với Unilever và P&G với nguồn lực khủng về truyền thông và chiêu thị, X-Men đã xây dựng vị thế của mình bằng sự tiên phong một cách khôn ngoan.

Không phải "nhiều tiền, lắm của" là thắng

Vào đầu những năm 2000, thị trường dầu gội cho nam vẫn chưa được định hình rõ nhưng cũng có khá nhiều sự lựa chọn như Romano (Unza) hay Head & Shoulder (P&G). Tuy không phải là doanh nghiệp đầu tiên bước vào thị trường nhưng X-Men với chiến dịch ra mắt năm 2003 được xem là thương hiệu định hình khái niệm "dầu gội đầu cho nam".

Trong 3 năm 2000 - 2003, Romano là thương hiệu thống lĩnh thị trường "ao xanh" (chứ chưa phải đại dương xanh) này. Tuy nhiên, Romano chưa tận dụng hết thế mạnh và chỉ được xem là nhãn hiệu phụ bên cạnh Enchanteur. Mọi ngân sách, hỗ trợ từ công ty mẹ dành cho Romano đều chưa tương xứng với tiềm lực phát triển của nhãn hiệu này.

Chính vì vậy, doanh số bán Romano vẫn chưa đáng kể so với tiềm năng của thị trường. Thay vì tìm cách giành khách hàng từ "mặt trận phía Tây" của Romano, X-Men mở "mặt trận riêng", ở phía Đông. Cụ thể, họ nhắm đến đối tượng khách hàng hoàn toàn mới. Đó là những người đàn ông vẫn đang sử dụng dầu gội dành cho nữ.

Quả thật, khi chưa có sự xuất hiện của X-Men, nhiều người vẫn không mấy quan tâm đến việc mình đang dùng dầu gội cho nam hay nữ. Thói quen tiêu dùng của đa số đàn ông Việt Nam vẫn là phụ nữ trong gia đình mua gì, họ sẽ dùng nấy.

Nắm bắt điều này, những người quản lý thương hiệu X-Men chọn chiến lược: nhắm vào cả hai nhóm khách hàng: người sử dụng và người mua.Thực tế, đa số đàn ông ít đi mua dầu gội nói riêng và những sản phẩm chăm sóc đầu tóc nói chung. Phụ nữ đóng vai trò quyết định trong chuyện này. Vợ mua cho chồng. Bạn gái mua cho người yêu.

Không chỉ xuất sắc từ định vị, sự sáng tạo trong truyền thông đóng vai trò mấu chốt trong sự thành công của thương hiệu X-Men. Với ngân sách nhỏ dành cho tiếp thị, mật độ quảng cáo của X-Men không được liên tục và dày đặc trên các phương tiện truyền thông.

Tuy nhiên, sự đầu tư nào của X-Men cũng "ra ngô ra khoai", đặc biệt là mẫu quảng cáo X-Mission trong năm 2007. Theo khảo sát của Công ty Nielsen, trong tháng 1/2007, X-Mission được người xem nhớ thứ hai, sau quảng cáo Comfort với nhân vật Andy và Lili.

Điều đáng nói là trong cùng thời gian phát X-Mission, có nhiều phim quảng cáo "hoành tráng" của các thương hiệu lớn như Coca-Cola, Omo, Tiger Beer, Ponds... Trong tháng 3/2007, X-Mission không còn xuất hiện trên truyền hình.

Tuy nhiên, quảng cáo này vẫn xếp thứ tư trong danh sách phim quảng cáo được nhiều người ghi nhớ. Một lần nữa, X-Men là minh chứng cho quan điểm: Yếu tố sáng tạo đóng vai trò quyết định trong quảng cáo và các chiến dịch truyền thông tích hợp. Không phải "nhiều tiền, lắm của" là thắng.

Thách thức cuộc đua đường dài

Sự thâm nhập này không chỉ bắt nguồn từ thị trường dầu gội nam là một "đại dương xanh" với khá ít cạnh tranh, mà còn đến từ sự nhất quán chiến lược. Theo một báo cáo của Milward Brown vào năm 2010, dầu gội là sản phẩm có mức độ thâm nhập cao nhất trong các loại mỹ phẩm cho nam và đóng vai trò "cửa ngõ” cho các sản phẩm khác.

Vai trò "cửa ngõ” được hiểu như sau: mùi hương là yếu tố lựa chọn quan trọng đối với mỹ phẩm nam giới, và người tiêu dùng có xu hướng lựa chọn sữa tắm, lăn khử mùi và gel vuốt tóc theo cùng thương hiệu dầu gội đầu, để tránh tình trạng "xung đột về mùi hương".

Với sự thâm nhập bằng dầu gội và định vị "mùi hương nam tính", X-Men không chỉ chắc chân trong thị trường dầu gội mà còn xây dựng tài sản thương hiệu vững chắc để sẵn sàng cho sự mở rộng các ngành hàng mỹ phẩm nam khác.

Không phải ngẫu nhiên mà Nivea, thương hiệu dẫn đầu về hai ngành hàng sữa rửa mặt và lăn khử mùi cho nam vừa tung ra dầu gội đầu và đầu tư rất mạnh mẽ trong thời gian gần đây. Một đối trọng về mùi hương là nhãn hàng AXE của Unilever với sản phẩm bắt đầu là lăn khử mùi hiện cũng nhanh chóng tung ra trọn bộ sản phẩm.

Có được sự khởi đầu thuận lợi nên X-Men vẫn giữ được thị phần dẫn đầu bất chấp sự tấn công mạnh mẽ của Clear Men thuộc Unilever. Tuy nhiên, cuộc đua thị phần không chỉ có một biến số duy nhất là truyền thông.

Đối đầu với những "ngôi nhà thương hiệu" như Unilever thì đối thủ của X-Men không chỉ là Clear mà là tất cả những thương hiệu có sản phẩm dầu gội nam. Với thế trận "thập diện mai phục" như vậy, khoảng cách của X-Men và Clear Men đã bị thu hẹp rất nhiều qua từng năm.

Thấu hiểu nguyên tắc "một thương hiệu không thể dành cho tất cả mọi người", ICP cũng cố gắng phát triển các thương hiệu với các định vị khác nhau như Dr Men (trị gàu), Hattrick (thể thao) để đa dạng hóa danh mục sản phẩm nhưng hầu như không lập lại được thành công của X-Men.

Khởi đầu với 4 tỷ đồng vốn cá nhân vào năm 2003, năm 2014 ICP đã gia nhập CLB các công ty có doanh thu hơn 1.000 tỷ đồng sau 11 năm hoạt động, một tốc độ phát triển đáng ngưỡng mộ. Nhưng chặng đường đến với cột mốc 1.000 tỷ đồng cũng không hề dễ dàng.

Trước thành công của thương hiệu X-Men, ICP từng rất kỳ vọng vào sản phẩm nước rửa rau Veggy để phục vụ nhu cầu sử dụng rau sạch, nhưng thị trường này dậm chân tại chỗ trong nhiều năm liền.

Sau thành công của X-Men, tiếp tục chiến lược "đại dương xanh" - ICP mở rộng đầu tư sang các mảng mỹ phầm cao cấp (Lovite), bán lẻ thời trang (X-Series), thực phẩm (Thuận Phát), nước uống (Orangina) nhưng đều không bội thu như X-Men. Ngay cả nỗ lực mở rộng thị trường sang phân khúc lớn tuổi và cao cấp hơn bằng dòng sản phẩm X-Men For Boss cũng không mấy thành công.

3 bài học quảng cáo mạng xã hội từ Nike

Nike là một trong những doanh nghiệp lớn trên thế giới hết sức thành công trong việc “rũ bỏ” quảng cáo truyền thống và tiếp nhận quảng cáo mạng xã hội. Nike chính thức thử nghiệm việc hiện diện trên các mạng xã hội vào năm 2004 và dần dần cắt giảm ngân sách của các loại hình quảng cáo truyền thống.



Hiện nay, Nike được biết đến là một trong những “doanh nghiệp mạng xã hội” lớn nhất thế giới, vượt qua cả Google, Instagram hay Pinterest. Thương hiệu thể thao này đang có trên 21 triệu lượt “like” trên Facebook, 4,1 triệu người theo dõi trên Twitter, gần 60 ngàn người theo dõi trên Pinterest, và hơn 7 triệu người theo dõi trên Instagram.

Năm vừa qua, dù không phải nhà tài trợ chính thức của World Cup 2014, Nike đã vượt qua Adidas trở thành thương hiệu được theo dõi nhiều nhất trong giải bóng đá lớn nhất hành tinh này.

Theo Visible Measures, công ty chuyên thống kê lưu lượng video trên mạng, Nike đã tung ra 8 chiến dịch và thu hút 240,6 triệu lượt theo dõi.

CEO của Nike, Mark Parker từng phát biểu:

“Một cuộc đối thoại 2 chiều với khách hàng là một phần quan trọng trong hệ sinh thái số hóa của chúng tôi. Nó cung cấp cho chúng tôi những hiểu biết chuyên sâu để thúc đẩy sáng tạo, củng cố các điểm kết nối khách hàng với thương hiệu, cũng như tạo ra nền tảng cho khách hàng tương tác với nhau. Thông qua những nền tảng mạng xã hội, chúng tôi có thể tận dụng sức mạnh và sự đam mê thể thao của khách hàng trên toàn thế giới để đào sâu hơn mối quan hệ của chúng tôi và khách hàng”.

Nike không chỉ “cứ làm đi” (slogan của Nike) khi họ tiến vào mạng xã hội và quảng cáo số hóa, họ thực sự hiểu về mạng xã hội và tận dụng tối đa những nền tảng này. Nike hiểu rằng các công ty cần làm gì để khiến cho các nỗ lực mạng xã hội và số hóa thực sự thành công.

Các công ty và các thương hiệu khác có thể không có được ngân sách như của Nike, nhưng niềm tin và các chiến lược của Nike vẫn có thể được mô phỏng và áp dụng ở một mức độ nào đó.

Để tận dụng quảng cáo mạng xã hội hiệu quả, dưới đây là 3 điều nên học từ Nike.

1. Nguồn lực

Nike đã cắt giảm ngân sách quảng cáo truyền thống, tận dụng mọi khoản để chi cho quảng cáo số hóa và trên mạng xã hội. Điều đó có nghĩa là Nike đã cắt bắt ngân sách quảng cáo? Câu trả lời là không! Thay vào đó, họ nghiên cứu và sắp xếp lại ngân sách vào các khoản chi tiêu khác nhau.

Từ những năm đầu của thế kỷ XXI, Nike đã nhìn thấy tiềm năng trong quảng cáo số hóa. Họ nhìn thấy cơ hội để chia sẻ câu chuyện thương hiệu của họ theo cách của riêng mình và trên các kênh truyền thông của riêng mình, đồng thời, gắn kết với người tiêu dùng hơn bao giờ hết. Họ đã tiếp nhận ý tưởng này và phần bổ các nguồn lực, từ nhân sự cho đến tài chính.

Bài học:

Bạn cần luôn nhớ rằng, mạng xã hội không bao giờ là miễn phí. Chúng ta cần dừng việc than vãn về việc trang Facebook của công ty đem lại hiệu quả quá chậm và hãy nhìn vào mạng xã hội theo hướng hoàn toàn khác.

Hãy coi mạng xã hội là một khoản đầu tư để doanh nghiệp đổ nguồn lực về tài chính, nhân lực và thời gian để tạo ra nội dung và đưa nội dung đó lan tỏa đến khách hàng.

2. Mối quan hệ với khách hàng

Nike hiểu được rằng lợi ích của mạng xã hội và số hóa là vô cùng lớn. Mạng xã hội thậm chí đem đến cho doanh nghiệp những phản hồi về sản phẩm/thương hiệu nhiều hơn cả bộ phận chăm sóc khách hàng. Mạng xã hội giúp doanh nghiệp lắng nghe, kết nối và tương tác với khách hàng.

Nếu nhìn vào các nền tảng mạng xã hội của Nike, bạn sẽ thấy họ luôn đầu tư rất lớn vào mối quan hệ với khách hàng. Trên Twitter, Nike liên tục lắng nghe và phản hồi lại khách hàng bằng cách đăng “tweet” hoặc “retweet” khách hàng mọi lúc mọi nơi.

Bài học:

Hãy dành thời gian cho khách hàng và những người hâm mộ thương hiệu, và tận dụng niềm đam mê của khách hàng với thương hiệu để gia cố mối quan hệ giữa hai bên. Hãy nhớ rằng lợi ích của mạng xã hội sẽ còn bùng nổ hơn nữa nếu nó được kèm theo khả năng lắng nghe, kết nối và cam kết với khách hàng.

3. Nghệ thuật kể chuyện thương hiệu

Nike là một trong những thương hiệu hàng đầu thế giới về nghệ thuật kể chuyện thương hiệu. Họ rất chuyên nghiệp trong việc khai thác những vấn đề xã hội và xây dựng các câu chuyện thương hiệu xoay quanh vấn đề đó.

Cho tới hiện nay, khi tuyển dụng nhân sự mới, Nike tự hào giới thiệu rằng họ đang tìm kiếm những người kể chuyện – storyteller. Đó là những con người đóng vai trò đại sứ thương hiệu, những người rất giỏi trong việc kể những câu chuyện của Nike, từ nhân sự trong bộ phận thiết kế sản phẩm cho đến nhân sự phụ trách mạng xã hội.

Hãng đồ thể thao này đã sản xuất những quảng cáo để lại ấn tượng sâu sắc đáng nhớ cho khách hàng thuộc mọi lứa tuổi. Chẳng hạn, nhân kỷ niệm 25 năm slogan huyền thoại “Cứ làm đi” (Just do it), Nike đã thực hiện chiến dịch kêu gọi người hâm mộ trên toàn thế giới nỗ lực và dám đưa bản thân đến với những thách thức mới.

Chiến dịch mang tên "Possibilities” (Những điều có thể) mở đường bằng một TVC có sự tham gia của dàn sao gồm các vận động viên thể thao và người nổi tiếng. Đoạn quảng cáo dưới lời kể của diễn viên hài nổi tiếng Bradley Cooper dẫn ra những hành động nhỏ mọi người đều có thể làm được, sau đó gợi ý những hành động lớn hơn, khó hơn và cuối cùng là những thử thách nhiều người thậm chí còn không dám nghĩ đến. Đó là: "Dẫn banh qua Gerard Pique và ghi bàn”, "Đánh bại Serena Williams trong một trận tennis”, "Cướp bóng của LeBron James”. Đoạn quảng cáo gợi lên những điều có thể, những mục tiêu mà ai cũng mơ ước nhưng sẽ không bao giờ đạt được nếu không dám nghĩ đến việc mình có thể.

Bài học:

Để có thể trở nên nội bật trong đám đông trên các nền tảng mạng xã hội ngày nay, doanh nghiệp cần có những nhân sự có khả năng kể những câu chuyện xoay quanh thương hiệu.

Quảng cáo mạng xã hội và số hóa không chỉ đơn thuần là những nền tảng. Đó là những cuộc cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp có khả năng lôi kéo khách hàng thông qua những nội dung ý nghĩa và hấp dẫn. Thay vì bán sản phẩm, hãy bàn tán về những ý tưởng, câu chuyện. Hãy luôn ghi nhớ điều này khi bạn xây dựng đội ngũ, tầm nhìn hay chiến lược quảng cáo cho thương hiệu của doanh nghiệp.

Và cuối cùng, qua câu chuyện của Nike, hãy nhớ, với quảng cáo mạng xã hội, bạn không chỉ “cứ làm đi” mà còn cần làm điều đó thật tốt.